Giáo dục Việt Nam: nguyên nhân của sự xuống cấp và các cải cách cần thiết - Vũ Quang Việt[1]
Bài viết này nằm trong dự án nghiên cứu chung nhằm đánh giá và đề xuất hướng phát triển giáo dục ở Việt Nam. Bài này đưa ra một nhận xét ai cũng biết nhưng ít ai để ý đến tầm quan trọng của nó: sự xuống cấp của đại học Việt Nam là do các “cải cách” của hệ thống đại học Việt Nam từ khi đổi mới kinh tế bắt đầu cuối năm 1989 chỉ nhằm mục đích tăng thu nhập cho cho giáo chức; không phải là tăng mức lương chính thức đối với các lớp chính qui, mà là tăng số lượng sinh viên thông qua các lớp tại chức, chuyên tu, từ xa... với chiêu bài phổ cập giáo dục đại học.
Nói cách
khác, việc “cải thiện thu nhập” này gần như y hệt con đường mà các xí nghiệp
vào thập niên 1980 buộc phải lập ra những “xí nghiệp đời sống”, rồi “ba lợi
ích”... để bươn chải hòng thoát ra khỏi những sự kềm chế của cơ chế bao cấp!
Đến nay đổi mới trong lãnh vực giáo dục vẫn chưa vượt qua khỏi cái ngưỡng mà xí
nghiệp đã thực hiện vào thập niên 1980-1990! Mục tiêu của quá trình phát
triển đại học Việt Nam từ khi đổi mới kinh tế đến nay chưa bao giờ là chất
lượng, trong đó có việc thiết lập lại kỷ cương và tính tự chủ trong việc bổ
nhiệm giáo sư, quyết định chương tình và nội dung chương trình của truyền thống
đại học đã được hầu hết các nước trên thế giới chấp nhận. Từ những nhận định
mang tính so sánh trong bài, có thể rút ra những khuyến nghị sau:
1. Phổ
cập giáo dục phải đồng thời đi liền với việc bảo tồn và xây dựng các đại học
nghiên cứu ưu tú với thầy và trò ưu tú, được chọn lọc nghiêm minh.
2. Đại
học nghiên cứu là nơi đào tạo bằng cấp tiến sĩ, các nhà nghiên cứu, các giáo sư
có chất lượng cho các đại học phổ cập. Đại học nghiên cứu phải là trung tâm của
tư duy độc lập và tư do nghiên cứu, phát huy sáng tạo, nhằm khai phá và đóng
góp vào khoa học, và bồi đắp nền văn minh nhân loại và đất nước. Thiết nghĩ
trong tình hình hiện nay ở Việt Nam, khó có thể xây dựng hơn 3 đại học nghiên
cứu. Nhà nước cần trợ cấp 100% kinh phí cho các đại học này. Đại học có thể
tăng thêm thu nhập qua nghiên cứu hoặc nhận viện trợ hay đóng góp tự nguyện của
nhân dân nhưng đây chỉ là thu nhập thêm. Sinh viên ở những trường này là tinh
hoa của đất nước, không phải đóng tiền.
3. Hệ
thống giáo dục đại học phổ cập nên phân làm hai loại: giáo dục 4 năm và giáo
dục cộng đồng 2 năm. Loại 2 năm là những trường cao đẳng giảng dạy những ngành
nghề nhằm phục vụ trụwc tiếp cho nền kinh tế đồng thời cho phép sinh viên tiếp
tục nếu muốn ở cấp 4 năm. Những đại học này có thể thu học phí, nhưng ở mức
người nghèo có thể chịu đựng được. Phần còn lại do ngân sách địa phương và ngân
sách trung ương tài trợ.
4. Mức
độ phổ cập đại học phải tùy thuộc vào mức phát triển kinh tế.
5. Cần
tạo cơ sở luật pháp phân biệt đại học tư vô vị lợi và đại học tư vị lợi. Loại
một, không có cổ phần viên, không có chủ nhân, do đó dù có lợi nhuận cũng không
thể đem chia, đã tạo ra những đại học danh tiếng ở Mỹ như Harvard, Yale,
Princeton, Stanford, Chicago. Loại hai là loại doanh nghiệp có chủ nhân (hoặc
cổ phần viên) được tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường với mục đích kinh
doanh vì lợi nhuận. Loại hai này được Úc và Anh cổ võ nhằm xuất khẩu dịch vụ
sang nước thứ ba (chứ trong nước họ, họ không cổ võ cổ phần hóa truờng công và
cho đến nay chưa có trường tư loại hai nào chứng tỏ là đã thành công trong việc
tạo ra các đại học có chất lượng cao).[2]
6. Các
đại học tư dù vô vị lợi hay vị lợi cần được khuyến khích thành lập.
7. Cần
nhanh chóng cải cách chương trình học ở đại học, rút ngắn lại bằng ½ hiện nay.
8. Các
đại học, đặc biệt là đại học nghiên cứu, phải là đại học tổng hợp, hoàn toàn có
liên thông, tức là sinh viên có thể lấy lớp ở các trường thành viên. Và do đó
bất cứ một đại học nghiên cứu nào cũng phải có trường sở (campus) ở một địa
điểm.
Phổ
cập hoá giáo dục đại học trong thời gian qua đã là điều nhiều nước cố gắng đạt
tới, dù nhiều nhà kinh tế cho rằng phổ cấp trung học là cần thiết hơn. Ở châu
Á, Thái Lan có lẽ là nước chạy nhanh nhất trong cố gắng phổ cập này. Vào năm
2004, tỷ lệ đi học đại học trong độ tuổi 18-22 ở nước này đã đến 41%. Thái Lan
đã áp dụng mô hình Mỹ để thực hiện điều này. Hiện nay Thái Lan có 78 đại học
công lập và 67 đại học tư. Hệ thống đại học công chia làm nhiều loại; (a) đại
học mang tính tổng hợp truyền thống, gồm 21 trường, (b) 41 đại học sư phạm mở
rộng thêm cho nhiều ngành khác, (c) 9 trường kỹ thuật chuyển thành hệ thống đại
học vùng có 39 địa điểm, (d) 10 đại học vùng và (e) một vài đại học khác như 2
đại học mở, 2 đại học phật giáo. Kết quả về chất lượng của việc mở rộng này còn
phải đợi thời gian trả lời. Tuy thế, việc mở rộng khá bài bản mang tính hệ
thống, không mở phình ra 21 đại học mang tính truyền thống, đặc biệt là một vài
đại học có tiếng như Chulalongkorn, Thammasat.
Ở
Mỹ, mặc dù không có đại học quốc gia theo nghĩa chính quyền liên bang trách
nhiệm quản lý và tài trợ, hệ thống đại học phát triển khá hoàn chỉnh, có thể
chia đại học thành hai loại:
(a) Đại
học tư vô vị lợi hoặc mang tính quốc gia hoặc mang tính địa phương gồm nhiều
đại học danh tiếng như MIT, Harvard, Columbia ngày càng tập trung vào hướng
nghiên cứu, thu hút học sinh giỏi, có tiềm năng đóng góp vào khoa học, hoặc
lãnh đạo xã hội về nhiều mặt;
(b) Đại
học bang, với học phí thấp cho dân ở bang, thường phân thành ba loại:
i. Đại học nghiên cứu là loại đầu đàn thu hút sinh viên
giỏi toàn bang kể cả sinh viên ngoài bang, tập trung vào nghiên cứu nhằm đáp
ứng các hoạt động kinh tế và lãnh đạo xã hội bang, với nhiều đại học danh tiếng
thế giới không thua kém các đại học tư vô vị lợi. Những tên tuổi lớn trong hệ
thống Đại học California như UC Berkeley hay ở UCLA, Đại học Michigan-Ann Arbor
trong hệ thống Đại học Michigan, Đại học Maryland ở College Park trong hệ thống
Đại học Maryland, hay Đại học Wisconsin-Madison trong hệ thống đại học
Wisconsin là những nơi sản xuất ra các nhà khoa học lỗi lạc được giải
Nobel,
ii. Đại học địa phương thường chấm dứt ở cấp cử nhân 4
năm và sau này mở thêm đến cấp cao học;
iii. Đại học cộng đồng kéo dài hai năm nhằm phổ cập
giáo dục ở mức cao hơn trung học phổ thông. Các bang đều có tổ chức liên thông
để sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học cộng đồng có thể đi vào đại học địa
phương hoặc vào đại học nghiên cứu.
Truyền
thống đại học Mỹ khác hẳn nhiều nước ở châu Âu, đặc biệt là Pháp và Đức; ở đó
các đại học thường là đại học công, miễn phí, và chia làm hai loại: loại ưu tú
thu nhận với một số lượng sinh viên giới hạn qua các kỳ thi tuyển và các đại
học khác mở rộng cho mọi học sinh đã tốt nghiệp phổ thông.
Dù
theo truyền thống nào, đại học đều có quyền tự trị về bổ nhiệm giáo sư, và
quyết định chương trình học và sách giáo khoa.
Với
vài nét giới thiệu trên làm nền, bài viết này sẽ cố gắng góp phần phân tích
những nguyên nhân đưa đến sự xuống cấp của hệ thống đại học Việt Nam hiện nay
và cho thấy cái gọi là "cải cách" mà không có bản đồ như hiện nay có
thể sẽ dẫn đến con đường phá sản khó lường, không chỉ của đại học mà của cả hệ
thống giáo dục Việt Nam nói chung. Ở Việt Nam, trường đại học là
trường đào tạo trình độ đại học từ 4 đến 6 năm tuỳ theo ngành đối với người có
bằng tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc bằng tốt nghiệp trung học chuyên
nghiệp, hoặc 1 đến 2 năm đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng ngành. Trường
cao đẳng là trường đào tạo trong 3 năm sau trung học phổ thông cho những
người có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc bằng tốt nghiệp trung học
chuyên nghiệp. Ở bài này, từ đại học là để gọi chung cả hệ đại học và cao đẳng.
Bài viết này sẽ sẽ chia làm 2 phần: phần I phân tích về sự mất phương hướng
phát triển, kết quả của quá trình tự vươn chải để tăng thu nhập; phần II về
những tồn tại bất biến và đã lỗi thời của hệ thống đại học Việt Nam; phần III
kết luận với một đề nghị số cải cách cần thiết.
I.
Hệ thống giáo dục Việt Nam
và quá trình tự bươn chải để tăng thu nhập
Hệ thống giáo dục là một mảng trong toàn bộ hệ thống kinh
tế xã hội của một nước. Do đó không thể hiểu hết được nguyên nhân sự xuống cấp
của hệ thống giáo dục Việt Nam
nếu không đi từ sự chuyển động của chính hệ thống kinh tế xã hội của Việt Nam trong thời
gian qua để phân tích.
Như trong một bài viết trước đây[3]
tác giả cho rằng quá trình đổi mới ở Việt Nam không mang tính chủ động mà là
một chuỗi những hành động tự phát của dân chúng hoặc địa phương nhằm để đối phó
với những khó khăn bức bách của tình thế. Tính tự phát, phá rào để tự giải
quyết đời sống đã đưa đến tình trạng trạng tự “làm luật” để tự thu tự chi nằm
ngoài ngân sách Nhà nước. Thu nhập của công chức gần như ở bất cứ một ngành
nghề nào đã không còn mang tính thống nhất mà được chia thành hai phần: phần lương
chính thức và phần thu nhập thêm (có thể bằng hoặc vượt lương chính thức). Ở
trong hệ thống giáo dục cũng thế, giáo chức ở cấp dưới đại học có thời phải
kiếm cách tăng thêm thu nhập bằng nhiều cách trong đó có cách là dạy phất phơ ở
trường để ép học sinh học thêm ở nhà, hoặc nhà trường tự quyết định ra các
khoản thu thêm và phụ huynh cũng sẵn sàng chấp nhận để giáo chức tồn tại. Đến
năm 2003, với tình trạng loạn phí và mang tính phi pháp quá trớn, Bộ Tài
chính đã tìm cách hạn chế một phần nào sự hoành hành phi chính phủ ở các cấp
bằng biện pháp chính thức hoá những hành động mang tính phi pháp trên, cho phép
(a) các đơn vị sự nghiệp (như cơ quan hành chính, giáo dục, y tế) được thu thêm
phí sử dụng và đuợc dùng ít nhất 40% phí này cũng như tiền tiết kiệm ngân sách
để chi tăng lương, và (b) cũng cho phép địa phương giữ lại 50% tăng thu ở địa
phương để tăng lương.[4]
Việc tuỳ tiện trong chính sách tăng nguồn thu để tăng chi cho lương vẫn tiếp
diễn dù có những qui định của Bộ Giáo dục và Bộ Tài chính.
Ta
có thể quan sát kết quả của hiện tượng này qua thống kê chính thức của nhà
nước. Ở Việt Nam
hiện nay, lương chính thức (trước tháng 9, 2006) được định theo lương cơ bản
nhân với một hệ số, tùy theo ngạch trật. Với lương cơ bản, tức là lương tối
thiểu hàng tháng áp dụng trong năm 2006 là 450 ngàn đồng,[5][6]
sẽ có lương là 2 triệu đồng, khoảng 125 USD, một bộ trưởng hệ số lương 9 có
lương khoảng 3.7 triệu đồng, khoảng trên 230 USD. Nhưng thật ra không ai nhận
lương ở mức đó dù không tham nhũng vì những khoản thu thêm. Lương thực nhận sẽ
hơn gấp đôi. Bảng thống kê chính thức qua điều tra về thu nhập bình quân đầu
người trong khu vực nhà nước dưới đây cho thấy điều đó. Ngay cả thu nhập bình
quân quân tính tổng quát đã gần bằng lương của chuyên viên cấp khá cao trong hệ
thống công chức.
khoảng 28 USD, một chuyên viên cấp hệ số 5
Bảng 1. Thu nhập bình quân đầu người trong khu vực
nhà nước
|
|
2000
|
2002
|
2003
|
2004
|
2005
|
2006
|
|
Tổng
|
849,9
|
1068,8
|
1246,7
|
1421,4
|
1639,5
|
1829,9
|
|
Giáo
dục
|
615,1
|
783,4
|
1015,5
|
1114,7
|
1337,0
|
1534,8
|
|
Tài
chính tín dụng (cao nhất)
|
1454,4
|
1935,0
|
2321,4
|
2790,6
|
3352,9
|
3894,3
|
Nguồn: TCTK, Niên giám Thống kê
2006.
Tình
trạng méo mó trong thu nhập giữa thu thập chính thức và phi chính thức (nhưng
được luật pháp cho phép) không những tạo ra kẽ hở cho tham nhũng, tạo ra chênh
lệch lớn không những trong lương mà còn trong chất lượng dịch vụ cung cấp giữa
những địa phương giàu có thể thu thêm nhiều và địa phương nghèo không thể thu
thêm nhiều, tạo ra động lực bảo vệ nguyên tắc thu nhập phi chính thức, chống
lại các cố gắng cải cách nhằm thống nhất hệ thống thu nhập của công chức.
Tình
trạng loạn thu từ dân mà sống này lúc trước kia được mệnh danh là "nhà
nước và nhân dân cùng làm" sau khi nổ ra vụ biểu tình ở Thái Bình[7]
đã được “hợp thức hoá” để kiềm chế và đẩy lên thành nguyên tắc "xã hội
hoá" mà không có nội dung rõ ràng, nên đã được nhiều lãnh đạo cao cấp hiện
nay hiểu là cho phép "cổ phần hoá", thực chất là tư nhân hoá,
nhà thương và trường học. Khi áp dụng vào giáo dục, nó tạo ra sự phân biệt giữa
vùng giàu và vùng nghèo, giữa những người có tiền đóng cho con cái vào trường
tốt và những người không có khả năng. Nơi thu ít vì dân quá nghèo, tất phải trả
lương ít và do đó không thể thu hút và giữ chân được giáo chức giỏi vì không
thể bảo đảm cho họ có một đời sống khả dĩ chấp nhận được. Chính sách "xã
hội hoá" này vi phạm nguyên tắc cơ bản trong xã hội nhằm bảo đảm cơ hội
đồng đều cho trẻ em có được một nền giáo dục phổ thông tốt và có cơ hội vào đại
học. Ngay cả ở cùng một địa phương, việc một số trường công được phép và có khả
năng thu thêm vượt cấp sẽ có nhiều phương tiện tăng chất lượng hơn là một
trường nghèo ở một khu nghèo. Để bảo đảm có một số trường có chất lượng tốt vì
ngân sách hạn chế, các nước tư bản cũng đã xây dựng các trường trung học hoặc
đại học ưu tú, nhưng mọi học sinh đều có quyền thi vào và trả cùng một học phí
như các trường công không qua tuyển chọn. Nếu tiếp tục như hiện nay, và nếu
chấp nhận đề nghị của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Giáo dục hiện nay, cho phép
các trường công cấp giáo dục phổ cập thu phí cao để tạo trường chất
lượng cao với lập luận là “tại sao lại ngăn cản những người sẵn sàng đóng tiền
cao để có dịch vụ giáo dục tốt?” Quan điểm lấy tài sản công để phục vụ đặc biệt
người có tiền không hiểu sao lại có thể trở thành lý luận "xã hội
hoá" của những người lãnh đạo nhà nước xã hội chủ nghĩa. Kinh doanh vì lợi
nhuận trên thị trường tự do tất nhiên chỉ biết phục vụ người có tiền và điều
này đã được chấp nhận. Nhưng đã là hoạt động nhà nước, thì nhà nước của bất cứ
một chế độ nào cũng phải phục vụ mọi người đồng đều, không phân biệt đối xử.
Để
đối phó với tình hình tương tự, đại học cũng có những hành động tự cứu, nhưng
khác với mẫu giáo, tiểu học và trung học là tạo ra đủ thứ phụ thu, hệ thống đại
học ồ ạt mở rộng để kiếm thêm thu nhập cho giáo chức. Trong thời kỳ cải cách
kinh tế, thực sự bắt đầu 1990-1995 (với hầu hết giá cả được tự do hoá và việc
để dân tự xoay không còn bị ngăn chặn), số sinh viên đại học và cao đẳng tăng
trung bình mỗi năm 18% trong khi số trường và giáo viên gần như không thay đổi.
Vào thời kỳ 5 năm sau đó (1995-2000) sự phát triển số sinh viên tăng tốc bùng
nổ mạnh hơn, ở mức bình quân năm 25%. Trong 10 năm này, tốc độ tăng không đồng
đều vì có hai năm số học sinh tăng ở mức kỷ lục: 47% năm 1995 và 71% năm 1996,
đưa số sinh viên từ năm 1994 là 203 ngàn lên 509 ngàn năm 1996, trong khi số
giáo viên và số trường hầu như không đổi. Đây là hiện tượng chưa từng thấy trên
thế giới. Thời kỳ 2000-2005, dù trường đại học được phép mở, số sinh viên tăng
trung bình cũng chậm lại ở mức 9% năm. Đến 2006 thì số sinh viên lại bắt đầu
nhảy vọt trở lại ở mức 20% năm. Phải chăng đây là hình thức của việc tự cứu hay
hệ quả một cuộc cải cách giáo dục với mục tiêu phổ cập giáo dục đại học?
Bảng 2. Giáo dục đại học và cao đẳng
Hình 1. Tốc độ tăng số sinh viên và giáo sư thời kỳ
1990-2006

Với
sự phát triển số sinh viên nhanh như vậy, có năm tới mức 70%, số giáo sư tất
không tăng kịp, do đó tỷ lệ sinh viên trên một giáo sư tăng từ 5.9 năm 1990 lên
13, 1 năm 1995 và rồi 31,2 năm 2006 tức là lớp học hiện nay đông gần gấp 3 lần
năm 1995 và 5 lần năm 1990. Lúc ở mức 6 sinh viên trên một giáo sư, vượt
cả mức đạt được ở các đại học hàng đầu của Mỹ từ 7-10[8],
đại học Việt Nam cho đến năm 1990 theo hướng hạn chế, hoặc mang tính ưu tú,
hoặc chỉ dành riêng cho giai cấp lãnh đạo và con cưng của chế độ. Nhưng dù như
thế nào, trong thời gian này, đại học Việt Nam cũng đã sản sinh ra những thành
phần ưu tú hoặc cho phép thành phần ưu tú thực hiện được những công trình để
đời.
Hình 2. Số sinh viên trên một giáo sư, 1990-2006

Cũng
cần nói thêm một nguyên nhân nữa của sự xuống cấp, và đây có thể là nguyên nhân
chính: đó là tình hình bành trướng việc thu nhận sinh viên không dài hạn, hay
là không chính qui, bao gồm những học viên tại chức, chuyên tu và loại khác.
Trong cả thời kỳ dài 16 năm từ 1990 đến 2006, số sinh viên không dài hạn tăng
nhanh hơn chính qui. Tỷ lệ không dài hạn so với dài hạn (tức là chính qui) tăng
từ 28% năm 1990 lên 48% năm 2006. Theo số liệu của Bộ Giáo dục & Đào tạo[9],
trong số lượng sinh viên tuyển mới năm 2004, chính qui chiếm 45,5%, lớp riêng
(không biết là gì) 0,4%, tại chức 26,2%, chuyên tu 3,8%, và “hệ khác” 24,1%.
Trong loại sinh viên không chính qui, loại tại chức và “hệ khác” là cao
nhất. “Hệ khác” này không được Bộ GDĐT giải thích nhưng có lẽ đây là số
sinh viên từ xa do đại học ở Hà Nội chẳng hạn liên kết với một địa phương nào
đó để lâu lâu đưa giáo sư về dạy. Hiện tượng phi chính qui xuất hiện rất
qui mô ở bất cứ loại trường đại học nào, dù là Đại học Quốc gia: tỷ lê phi
chính qui tuyển mới ở Đại học Quốc gia Hà Nội chiếm 57%, Đại học Quốc gia TPHCM
55%, Đại học Huế 72%, Đại học Đà Nẵng 47%.[10]
Học
sinh chính qui phải là học sinh giỏi được tuyển chọn qua thi tuyển, còn tại
chức, chuyên tu, “hệ khác”, v.v. được thu nhận qua cửa ngõ hoàn toàn khác, có
thể là người muốn đi học chỉ cần có bằng trung học và có tiền. Số người được
thu nhận đại trà và ồ ạt như thế tất nhiên cũng sử dụng ngân sách hạn chế của
nhà nước, cơ sở vật chất của trường và làm giảm thì giờ của giáo viên dành cho
sinh viên chính qui. Và để họ sẵn sàng đi học vì phải trả tiền cao hơn, kể cả
biếu quà thầy giáo và giới quản lý giáo dục, họ sẽ phải được tạo điều kiện để
lấy bằng dễ dàng.
Chính
sách thu học phí do đó mang tính khuyến khích nhà trường và thầy giáo thu nhận
sinh viên không chính qui. Thí dụ ở Đại học Kinh tế TPHCM, sinh viên chính qui
nộp học phí 1,8 triệu một năm, nhưng sinh viên không chính qui nộp 3,3 triệu
một năm; các thành phần khác nộp theo tín chỉ có thể lên tới 4,5 triệu một năm.[11]
Đối với giáo sư, nếu dạy ngoài giờ và ngoại hệ chính qui đều có hệ số tăng
lương từng giờ, cao nhất là tăng gần gấp ba khi dạy ngoài thành phố (chắc là
chương trình liên kết với địa phương).[12]
Những
người tại chức, chuyên tu này, ở cả bậc tiến sĩ, lấy bằng nhanh trong thời gian
kỷ lục hiện nay đang nắm hoặc sẽ nắm những vai trò lãnh đạo chủ chốt trong hệ
thống chính trị và chính quyền.
II.
Những tồn tại bất biến và đã lỗi thời của hệ thống đại học Việt Nam
Phổ
cập đại học
Qua
các thời kỳ Bộ trưởng giáo dục, cải cách có lẽ chỉ là bánh vẽ: khó lòng biết
bao nhiêu phần là vì mục đích tăng thu nhập cho thầy giáo, và bao nhiêu phần là
do ý muốn phổ cập giáo dục đại học. Và dù dưới chiêu bài phổ cập giáo dục thì
ta cũng có thể thấy rõ, đây là loại cải cách không có nghiên cứu và cũng chẳng
có lộ trình thực hiện. Do đó, vấn đề chất lượng không được đặt ra. Ta có thể
thấy điều này qua tình trạng số giáo sư không tăng kịp với số sinh viên, và số
sinh viên không chính qui nhằm tăng thu nhập tăng vượt cả số sinh viên chính
qui. Chính vì sự tăng số sinh viên một cách quá đáng để tăng thu nhập như ở
trên, ta có thể tìm thấy những chi tiết thống kê đáng kinh ngạc như nhiều đại
học ở Việt Nam trở thành những đại học khổng lồ nhất thế giới như: Đại học Quốc
gia TP HCM có 82 ngàn sinh viên, Đại học Huế 81 ngàn, Đại học Sư phạm Hà Nội 56
ngàn, Đại học Đà Nẵng 52 ngàn, Đại học Mở Hà Nội 46 ngàn, Đại học Quốc gia Hà
Nội 44 ngàn, Đại học Thái Nguyên 34 ngàn, Đại học Kinh tế Hà Nội 35 ngàn, Đại
học kinh tế TPHCM 39 ngàn, Đại học Cần thơ 32 ngàn, v.v. Đó là chỉ kể đến năm
2004.[13]
Ở Mỹ, hầu hết các đại học có khoảng 15-25 nghìn sinh viên.
Nêu
lên như thế không phải là để lên án mục đích phổ cập đại học vì đây là mục đích
tốt đẹp cần theo đuổi, nhưng mục đích phổ cập không cho phép đẩy cả hệ thống
đại học toàn diện xuống cấp một cách thảm hại như hiện nay. Và vấn đề phổ cập
đại học còn tùy thuộc khả năng và nhu cầu kinh tế. Cũng cần thấy là tỷ lệ đi
học đại học so với độ tuổi 18-22 ở Việt Nam là 21%, cao hơn Trung Quốc và không
thấp hơn nhiều với nhiều nước có thu nhập cao hơn nhiều (coi bảng 3 và
4). Bảng 3 cũng cho thấy là phổ cập giáo dục đại học không nhất thiết đưa
đến nền kinh tế phồn vinh và không phải là điều kiện bắt buộc. Tỷ lệ ở Thụy Sĩ,
Nhật Phát, Anh thấp hơn Nga và một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây.
Tuy nhiên vấn đề này sẽ được bàn trong bài riêng về phát triển giáo dục
và vấn đề tài chính.
Bảng 3. Tỷ lệ đi học đại học (%) và GDP bình quân
đầu người (USD)
|
GDP
đầu người 2006
|
Tỷ
lệ đi học
|
GDP
đầu người 2006
|
Tỷ
lệ đi học
|
GDP
đầu người 2006
|
Tỷ
lệ đi học
|
|
Việt
Nam
$675
|
21*
|
Nhật
$34661
|
54
|
Thụy
Điển
$42170
|
82
|
|
Thái
Lan
$3251
|
41
|
Úc
$37924
|
72
|
Nga
$ 6877
|
68
|
|
Indonesia
$1592
|
16
|
Thụy
Sĩ
$50247
|
47
|
Ukraine
$ 2287
|
66
|
|
Philippines
$1356
|
29
|
Pháp
$35375
|
56
|
Hungary
$11134
|
52
|
|
Trung
Quốc $2055
|
18*
|
Mỹ
$43562
|
82
|
Ba
Lan
$ 8801
|
59
|
|
Mã
Lai
$5704
|
29
|
Anh
$39207
|
60
|
Cuba**
$ 4050
|
33
|
Nguồn: UNESCO, Global Education Digest 2006: Comparing Education
Statistics Across the World
*Tỷ lệ đi học của các nước là cho năm 2004. Riêng của Việt
Nam và TQ thuộc năm 2006 là do tác giả tự tính. Số liệu TQ là từ China
Statistical Yearbook 2007.
**Số liệu của Cuba là dựa vào hối suất phi thị trường do nhà
nước quyết định nên không mang tính so sánh với các nước phát.
Bảng 4. Dân số trong độ tuổi 18-22, số sinh viên đại
học và tỷ lệ đi học ở Việt Nam
|
|
2000
|
2006
|
2015
|
2020
|
2030
|
|
Dân
số trong độ tuổi 18-22
|
7.386.302
|
8.127.069
|
7.348.098
|
6.492.855
|
6.202.966
|
|
Số
sinh viên đại học
|
918.228
|
1.666.200*
|
|
|
|
|
Tỷ
lệ đi học trong độ tuổi (%)
|
12,4
|
20,5
|
|
|
|
Nguồn:
TCTK và dự báo của tác giả.[14]
Ngoại trừ Trung Quốc và Việt Nam, số liệu các nước khác là cho năm 2004. *Số
sinh viên là theo TCTK, cao hơn 100 ngàn so với số của Bộ GDĐT vì bộ chưa tính
sinh viên hệ khác cho năm 2006.
Phổ
cập là mục đích của hệ thống đại học Mỹ. Trong hệ thống đại học công lập thuộc
các bang ở Mỹ, hệ thống chia làm 3 tầng: đại học nghiên cứu không làm nhiệm vụ
phổ cập mà nhằm vào mục đích chất lượng, đại học 4 năm+ và đại học cộng đồng
làm nhiệm vụ phổ cập. Ở cấp phổ cập, họ vẫn cố gắng giữ chất lượng, do đó số
học sinh trên một giáo sư gần như không quá 20. Và vì mục đích phổ cập, học phí
chỉ khoảng $2000-3000/năm ở cấp 4 năm+ và thấp hơn nhiều ở cấp cộng đồng.
Học phí ở trường công thấp hơn rất nhiều so với học phí ở trường tư vô vị lợi
có thể lên đến $30.000/năm. Ngay cả đại học nghiên cứu công lập, ít có đại học
nào có học phí cao hơn $4000/năm. Cũng trong chiều hướng đó, ở Mã Lai, phổ cập
không đồng nghĩa với “lấy thu bù chi”, chất lượng của những đại học hàng đầu
của họ vẫn được đặt lên hàng đầu, học phí không đáng kể. Hai trường hàng đầu
của Mã Lai lọt vào nhóm 200 đại học tốt nhất thế giới về nghiên cứu[15]
(xin miễn bàn về cách xếp hạng vì nhiều đại học quan trọng trên thế giới không
tham dự): một là trường công universiti Malaya và một là trường tư Universiti
Kebangsaan Malaysia. Học phí trường công là $531/năm cho sinh viên nội địa và
$1592 cho sinh viên nước ngoài. Còn trường kia là một loại vô vị lợi, học phí
còn rẻ hơn nhiều, chỉ lấy học phí sinh viên (trong nước hay nước ngoài) có
$379/năm nếu được nhận vào. Việt Nam nên bắt chước Mã Lai lấy học phí như
thế này nhưng đạt được chất lượng như thế đấy.
Chương
trình và nội dung học
Rất
nhiều bàn thảo về chương trình và nội dung chương trình đã xảy ra, nhưng cho
đến nay chương trình đại học Việt Nam vẫn không có gì thay đổi so với khi tác
giả phân tích và xuất bản một bài viết về vấn đề này năm 2005.[16]
Phần này dựa vào so sánh kết quả của bài viết trên và chương trình khung
về kinh tế do Bộ GDĐT đưa lên mạng vào ngày 6/4/2006[17]
cũng như chương trình của trường Đại học Kinh tế Hà Nội dựa vào chương trình
khung trên.[18]
Chương
trình 4 năm ở Đại học nghiên cứu hàng đầu của Mỹ như Northwestern là 1380 giờ.
Ở chương trình khung của Bộ, số đơn vị học trình tối thiểu là 180, tính ra là
2700 giờ (1 đơn vị học trình có 15 tiết, mỗi tiết 45 phút). Khi áp dụng, Đại
học kinh tế Hà Nội đòi hỏi 214 dvht, tính ra là 3210 giờ. Như vậy chương trình
khung của Bộ đòi hỏi chương trình dài gần gấp hai lần Mỹ và chương trình thực
tế ở Hà Nội dài gấp 2,3 lần; đó là chưa kể phần giáo dục quốc phòng (165 tiết)
và giáo dục thể chất (5 dvht, hay 75 tiết). Chương trình như thế là cực
kỳ nhồi nhét. Có thể coi chương trình khung của Bộ ở Phụ lục 1. Về chương trình
thực tế ở Hà Nội, ta cũng thấy việc tự chọn của học sinh gần như không đáng kể,
gồm những phần sau:
·
Khối kiến thức chung bắt buộc: 68dvht
·
Kiến thức cơ bản ngành nhóm ngành bắt buộc: 63
·
Kiến thức cơ bản ngành: 63 (bắt buộc 57)
·
Kiến thức chuyên ngành: 10 (bắt buộc 8)
·
Khoá luận hay thi tốt nghiệp: 10
Giáo
dục đại cương của chương trình khung có hơn một nửa là về chính trị Mác Lê, và
chiếm 14% chương trình khung (cao hơn tỷ lệ 9% mà tác giả đã tính trước đây).
Đi
sâu vào phân tích chương trình thực hiện ở Hà Nội, ta thấy rõ về phần kiến thức
chuyên môn, không khác với điều tác giả nhận xét trước đây: học sinh trong 4
năm phải học gần như tất cả mọi thứ trên đời về kinh tế mà nhà trường có thể
nghĩ ra được, từ các môn cơ bản như kinh tế vi mô và vĩ mô, đến các môn như
kinh tế lao động, quản trị xí nghiệp, kế toán, địa lý kinh tế, luật kinh tế,
dân số họ, chính sách thương mại, kinh tế tài nguyên và môi trường, phân tích
dự án kinh tế, thị trường chứng khoán, v.v. Đây là những môn ít khi dạy ở cấp
đại học 4 năm và có dạy thì chỉ là những môn để học sinh có thể chọn lựa, và
đây cũng là những môn mà trường đại học có thầy đã và đang nghiên cứu chuyên
sâu. Đòi hỏi mỗi thứ một tí, học sinh không có khả năng hoặc thì giờ đi sâu vào
bất cứ vấn đề gì và chắc chắn là thầy cũng chỉ đọc sách nói lại mà không hiểu
thầy có hiểu không nữa. Theo các tài liệu giáo khoa của trường thì nội dung rất
là rất nặng lý thuyết mà nhiều phần học sinh ở Mỹ chỉ học trong chương trình
sau cử nhân. Như vậy trường chỉ nhằm nhồi sọ kiến thức lý thuyết kinh tế nhưng
sự phân chia chi li các lớp học thì lại có vẻ thực dụng như dạy nghề.
Muốn
cho sinh viên có thì giờ tự học và nghiên cứu, không thể không giảm tải chương
trình xuống một nửa, và như thế giáo sư cũng đỡ bận rộn để có thì giờ làm
nghiên cứu.
Hệ
thống tổ chức đại học
Hệ
thống tổ chức đại học Việt Nam vẫn tiếp tục mô hình lắp ghép nhiều ốc đảo
trường thành một đại học. Việt Nam cũng đã thiết lập về hình thức, đại học (hay
viện đại học) gồm nhiều trường đại học như Đại học Quốc gia TPHCM gồm những
trường Bách khoa, Khoa học Tự nhiên, Khoa học Nhân vân, Công nghệ Thông tin,
Quốc tế và một khoa kinh tế. Tất cả đều gọi là đại học, thay vì phân biệt đại
học (university) và trường (college). Điều này không phải là ngẫu nhiên bởi vì
mỗi đại học đều cho mình “tự chủ” như những ốc đảo. Có nghĩa là sinh viên ở
trường này không thể lấy lớp ở trường kia trong cùng một ��ại học, như hệ thống
tổ chức ở Mỹ hay các nước khác. Ốc đảo về địa điểm và ốc đảo về tổ chức cũng
không cho phép thầy giáo kết hợp, trao đổi và nghiên cứu chung. Việc tổ chức ốc
đảo này tiếp tục vì triết lý giáo dục tổng hợp không được thể hiện trong chương
trình giảng dạy ở mỗi trường. Mới đây trường kinh tế rút ra khỏi trường đại học
quốc gia thành một trường độc lập. Do đó việc học toán chẳng hạn ở những thầy
dạy kinh tế thì rõ ràng là học từ một người biết sơ về toán. Ngược lại muốn dạy
về kinh tế môi trường mà không biết gì về hoá học hoặc nông nghiệp, lâm nghiệp
hoặc không có cơ hội giao lưu với những người ở những ngành này thì mục đích
cũng chẳng khác gì nhằm tạo ra những người khiếm thị. Thực hiện tính chất của
một đại học tổng hợp cần là nội dung của cải cách.
Chữ
“tự chủ” ở trên mang ý nghĩa bảo vệ quyền lực đơn vị trong hệ thống, chứ không
mang ý nghĩa quyền tự chủ về quyết định chương trình, về bổ nhiệm giáo sư, về
quản lý nhân viên. Giáo sư Võ Tòng Xuân nhận xét:[19]
·
Thực chất, Hiệu trưởng không có quyền cho ai
nghỉ việc khi người đó thuộc biên chế nhà nước, và càng không có quyền gì thu
nhận hoặc đề bạt cán bộ đầu ngành của trường. Đó là quyền của cấp trên cao hơn.
Tương tự như vậy đối các việc khác, thí dụ như thay đổi chương trình đào tạo,
đưa vào chương trình mới… mọi thứ phải được thông qua cấp trên.
·
Một đặc điểm của các trường đại học Việt nam mà
tất cả các trường nước ngoài không có: đó là sự hiện diện của Đảng và các đoàn
thể trong mọi hoạt động. Nhân viên của các đại học, từ hiệu trưởng đến người
nhân công quét dọn đều không thể tập trung thời gian cho chuyên môn của mình,
mà phải dành thì giờ tham gia các buổi hội họp đảng và đoàn thể, học các nghị
quyết của trung ương, của Bộ, của địa phương, v.v. Sinh viên cũng phải dành
thời gian để học như thế. Do đó chúng ta phải thẳng thắn nhìn vào sự thật này
để thấy mình phải cực lực gấp nhiều lần đồng nghiệp của mình ở các nước khác.
Một thua kém về chuyên môn của mình cũng có thể là do quỹ thời gian của chúng
ta phải phân chia ra quá nhiều việc khác nhau nên khó tập trung điêu luyện,
thực hành chuyên môn.
III.
Kết luận
Bài
viết này đã điểm lại quá trình xuống cấp của hệ thống đại học Việt Nam. Dù đây
không bàn về nội dung cải cách giáo dục đại học, việc nhìn lại để đánh giá như
trên cho ta thấy rõ những việc cần làm ngay trong một chương trình cải cách
toàn diện:
1. Phổ
cập giáo dục phải đồng thời đi liền với việc bảo tồn và xây dựng các đại học
nghiên cứu ưu tú với thầy và trò ưu tú, được chọn lọc nghiêm minh. Đại học
nghiên cứu là nơi đào tạo bằng cấp tiến sĩ, các nhà nghiên cứu, các giáo sư có
chất lượng cho các đại học phổ cập. Đại học nghiên cứu phải là trung tâm của tư
duy độc lập và tư do nghiên cứu, phát huy sáng tạo, nhằm khai phá và đóng góp
vào khoa học, và bồi đắp nền văn minh nhân loại và đất nước. Thiết nghĩ
trong tình hình hiện nay ở Việt Nam, khó có thể xây dựng hơn 3 đại học nghiên
cứu. Nhà nước cần trợ cấp 100% kinh phí cho các đại học này. Đại học có thể
tăng thêm thu nhập qua nghiên cứu hoặc nhận viện trợ hay đóng góp tự nguyện của
nhân dân nhưng đây chỉ là thu nhập thêm. Sinh viên ở những trường này là tinh
hoa của đất nước, không phải đóng tiền.
2. Hệ
thống giáo dục đại học phổ cập nên phân làm hai loại: giáo dục 4 năm và giáo
dục cộng đồng 2 năm. Loại 2 năm là những trường cao đẳng giảng dạy những ngành
nghề nhằm phục vụ trụwc tiếp cho nền kinh tế đồng thời cho phép sinh viên tiếp
tục nếu muốn ở cấp 4 năm. Những đại học này có thể thu học phí, nhưng ở mức
người nghèo có thể chịu đựng được. Phần còn lại do ngân sách địa phương và ngân
sách trung ương tài trợ.
3. Mức
độ phổ cập đại học phải tùy thuộc vào mức phát triển kinh tế.
4. Cần
tạo cơ sở luật pháp phân biệt đại học tư vô vị lợi và đại học tư vị
lợi. Loại một, không có cổ phần viên, không có chủ nhân, do đó dù có lợi
nhuận cũng không thể đem chia, đã tạo ra những đại học danh tiếng ở Mỹ như
Harvard, Yale, Princeton, Stanford, Chicago. Loại hai là loại doanh nghiệp có
chủ nhân (hoặc cổ phần viên) được tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường với
mục đích kinh doanh vì lợi nhuận. Loại hai này được Úc và Anh cổ võ nhằm xuất
khẩu dịch vụ sang nước thứ ba (chứ trong nước họ, họ không cổ võ cổ phần hóa
truờng công và cho đến nay chưa có trường tư loại hai nào chứng tỏ là đã thành
công trong việc tạo ra các đại học có chất lượng cao).[20]
5. Các
đại học tư dù vô vị lợi hay vị lợi cần được khuyến khích thành lập cho những
người có tiền.
6. Cần
nhanh chóng cải cách chương trình học ở đại học, rút ngắn lại bằng ½ hiện nay.
7. Các
đại học, đặc biệt là đại học nghiên cứu, phải là đại học tổng hợp, hoàn
toàn có liên thông, tức là sinh viên có thể lấy lớp ở các trường thành viên. Và
do đó bất cứ một đại học nghiên cứu nào cũng phải có trường sở (campus) ở một
địa điểm.
Vấn
đề phát triển cụ thể về số sinh viên, vấn đề học phí, trách nhiệm của nhà nước
và khả năng ngân sách nhà nước sẽ được bàn đền trong bài riêng về tài chính cho
giáo dục.
Phụ lục
Chương trình khung về Kinh tế chính trị của Bộ Giáo dục Đào tạo
|
1.
Giáo dục đại cương tối thiểu (Chưa kể các nội dung về Giáo dục Thể
chất và Giáo dục Quốc phòng)
|
60
|
|
|
Bắt
buộc
|
49
|
|
|
|
Triết
học Mác-Lênin
Kinh
tế chính trị Mác-Lênin
Chủ
nghĩa xã hội khoa học
Lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Tư
tưởng Hồ Chí Minh
Ngoại
ngữ
Tin
học đại cương
Toán
cao cấp
Lý
thuyết Xác suất& Thống kê toán
…………………
Giáo
dục thể chất
Giáo
dục quốc phòng
|
6
8
4
4
3
10
4
6
4
…………
5
165
tiết
|
|
2.
Giáo dục chuyên nghiệp tối thiểu
|
120
|
|
|
2.1
Kiến thức cơ sở khối ngành và ngành bắt buộc
|
56
|
|
|
Cơ
sở khối ngành
|
Tổng
Lịch
sử văn minh thế giới
Đại
cương văn hóa Việt Nam
Tâm
lý học đại cương
Pháp
luật đại cương
Xã
hội học đại cương
Logic
học
|
19
4
3
3
3
3
3
|
|
|
Cơ
sở ngành
|
Tổng
Lịch
sử kinh tế quốc dân
Kinh
tế vi mô
Kinh
tế vĩ mô
Lịch
sử các học thuyết kinh tế
Nguyên
lý thống kê kinh tế
Kinh
tế lượng
Kinh
tế quốc tế
Kinh
tế phát triển
|
27
3
4
4
4
3
3
3
3
|
|
|
2.2
Kiến thức ngành
|
45
|
|
|
Bắt
buộc
|
25
|
|
|
Ngành
|
Tổng
Các
học thuyết kinh tế trong tác phẩm của C. Mác
Các
họcthuyết kinh tế trong tác phẩm của Lênin
Kinh
tế chính trị về thời kỳ qúa độ ở Việt Nam
|
10
4
3
3
|
|
|
Kiến
thức bổ trợ
|
Tuỳ
trường quyết định
|
|
|
|
Thực
tập nghề nghiệp
|
|
5
|
|
|
Khoá
luận (hoặc thi tốt nghiệp)
|
|
10
|
1 Tháng 1 2008
[1]
Xin cám ơn các anh Trần Hữu Quang, Võ Tòng Xuân đã đọc và góp ý cho bài viết
này.
[2]
Ở đây cần vạch ra sự hiểu lầm rất tai hại của cả cấp cao ở Việt Nam về việc
phải mở cửa cho nhập khẩu giáo dục theo qui định của WTO. Thứ nhất là WTO chỉ
có thoả thuận về nguyên tắc chứ chưa đạt được thoả thuận cụ thể liên quan đầu tư quốc tế, chính sách cạnh
tranh, chế độ mua sắm của công, thuế quan hàng công nghiệp và dịch vụ, vì các
nước phát triển không sẵn sang mở cửa cho hàng nông nghiệp là thế mạnh của các
nước thứ ba (coi Trần Hải Hạc, Cuộc chơi WTO: cách đặt vấn đề của Stiglitz,
Thời Đại Mới, tháng 11 2007- http://www.tapchithoidai.org/). Thứ hai là Đồng ý về bảo vệ và phát huy tính đa
dạng của biểu hiện văn hoá UNESCO năm 2005 (The Convention on the the protection and
promotion of the diversity of cultural expressions) đã xác định quyền chủ quyền
quốc gia về việc thiết kế các chính sách văn hoá và công nhận tính chất đặc thù
của vật thể và dịch vụ văn hoá, coi chúng là phương tiện của identity, giá trị
và ý nghĩa. Nói dễ hiểu nó cho phép các nước có quyền có chính sách đặc thù (kể
cả hạn chế) về sản xuất, phân phối, sử dụng và hưởng thụ vật thể và dịch vụ văn
hoá. (Coi:
http://portal.unesco.org/culture/en/ev.php-URL_ID=35405&URL_DO=DO_TOPIC&URL_SECTION=201.html).
[3]
Vũ Quang Việt, "Chuyển biến trong lãnh đạo và hệ thống lãnh đạo Đảng và
Nhà nước Việt Nam từ sau 1975: Khả năng cải cách thể chế quyền lực để chống
tham nhũng", Thời Đại Mới, số 9 tháng 11 2006, http://www.tapchithoidai.org/
[4]
Nguồn tài chính nào để thực
hiện cải cách tiền lương? Nhân Dân, 3/12/2003.
[5]
Quá trình tăng mức lương tối thiểu như sau:
. 1-1-2003 : tăng từ 210.000 đ lên 290.000 đ/tháng
. 1-10-2005 : 350.000 đ
. 1-10-2006 : 450.000 đ
. 1-1-2008 : 540.000 đ
[6]
Trong hệ thống công chức ở Việt Nam, người có bằng đại học được nhận vào làm
cũng chỉ được xếp cấp cán sự và rất nhiều năm sau mới được lên cấp chuyên viên
1.
[7]
Việc tự “làm thuế” ở địa phương, áp dụng lao động cưỡng bách, cùng với việc đòi
nhân dân đóng góp quá đáng để xây đường, làm đường tải điện (như ở Thái bình
mỗi cá nhân bị đóng góp lên tới 200 ngàn đồng theo giá thời điểm 1997) nhưng
lại bị tham ô đục khoét. Các cuộc biểu tình của nông dân xảy ra khắp nơi, cao
điểm nhất là cuộc biểu tình của nông dân Thái Bình vào tháng 4 và tháng 7 năm
1997, mở rộng đến 128 làng ở 6 trong 7 huyện[7].
Theo báo Nhân Dân (6/11/1992), từ 1988 đến 1992 có 50 vụ xung đột nghiêm trọng
phản đối việc phân chia ruộng đất không bình đẳng.
[8]
Đại học hang đầu như Harvard, Yale, tỷ số sinh viên trên một giáo sư là 7. Đặc
biệt như California Institute of Technology, tỷ số là 3. Cao hơn như các
đại học nghiên cứu trong hệ thống University of California là 15, và các đại
học đại trà chủ yếu là 4 năm như State University of California, tỷ số là 20.
Hầu hết các đại học ở Mỹ không vượt quá tỷ số 20.
[9]
Coi: http://www.moet.gov.vn/?page=11.9&view=5361
[10]
Theo số liệu của Bộ Giáo dục & Đào tạo, http://www.moet.gov.vn/?page=11.9&view=5361.
[11]
Coi qui định của ĐH Kinh tế TPHCM: http://www.khtc.ueh.edu.vn/News.aspx?NewsID=36
[12]
Theo Qui chế chi tiêu nội bộ Trường ĐH Kinh tế TPHCM năm 2007.
[13]
Coi thống kê Bộ GDĐT: http://www.moet.gov.vn/?page=11.9&view=5361.
[14]
Vũ Quang Việt, Chiều hướng phát triển dân số và giáo dục, hiện tại và tương lai
[15]
Coi: http://www.topuniversities.com/worlduniversityrankings/
[16]
Coi Vũ Quang Việt, So sánh chương trình giáo dục đại học ở Mỹ và Việt Nam
(2005), http://hoithao.viet-studies.info/Hoithao2005.htm.
Bài này đã được rút ngắn, đăng trên Thời báo Kinh tế Sàigòn và được phổ biến
khá rộng rãi trên nhiều mạng.
[17]
Coi: http://www.moet.gov.vn/?page=6.13&type=documents&view=441
[18]
Coi: http://www.vnu.edu.vn/en/contents/index.php?ID=837
[19]
Võ Tòng Xuân, Bài điểm báo cáo của Ngân hàng Thế giới: Việt Nam: Giáo dục Đại
học và Kỹ năng cho Tăng trưởng.
[20]
Ở đây cần vạch ra sự hiểu lầm rất tai hại của cả cấp cao ở Việt Nam về việc
phải mở cửa cho nhập khẩu giáo dục theo qui định của WTO. Thứ nhất là WTO chỉ
có thoả thuận về nguyên tắc chứ chưa đạt được thoả thuận cụ thể liên quan đầu tư quốc tế, chính sách cạnh
tranh, chế độ mua sắm của công, thuế quan hàng công nghiệp và dịch vụ, vì các
nước phát triển không sẵn sang mở cửa cho hàng nông nghiệp là thế mạnh của các
nước thứ ba (coi Trần Hải Hạc, Cuộc chơi WTO: cách đặt vấn đề của Stiglitz,
Thời Đại Mới, tháng 11 2007- http://www.tapchithoidai.org/). Thứ hai là Đồng ý về bảo vệ và phát huy tính đa
dạng của biểu hiện văn hoá UNESCO năm 2005 (The Convention on the the protection and
promotion of the diversity of cultural expressions) đã xác định quyền chủ quyền
quốc gia về việc thiết kế các chính sách văn hoá và công nhận tính chất đặc thù
của vật thể và dịch vụ văn hoá, coi chúng là phương tiện của identity, giá trị
và ý nghĩa. Nói dễ hiểu nó cho phép các nước có quyền có chính sách đặc thù (kể
cả hạn chế) về sản xuất, phân phối, sử dụng và hưởng thụ vật thể và dịch vụ văn
hoá. (Coi:
http://portal.unesco.org/culture/en/ev.php-URL_ID=35405&URL_DO=DO_TOPIC&URL_SECTION=201.html).
©
Thời Đại Mới - Số 13 - Tháng 3/2008
http://tapchithoidai.org/ThoiDai13/200813_VuQuangViet_1.htm
--------------------------------------------------------------------------------
Nếu Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)


TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------